*** QUYỀN LỢI TỔ QUỐC & DÂN TỘC LÀ TRÊN HẾT *** KHAI DÂN TRÍ, CHẤN DÂN KHÍ, HẬU DÂN SINH ***

2011/05/03

Biên bản buổi họp 29 tháng 4 của TT Ford về công tác di tản

Biên bản buổi họp 29 tháng 4 của TT Ford về công tác di tản

 

Vũ Quí Hạo Nhiên

 

LGT. Bài này được đăng lần đầu trên tuần báo Viet Tide làm 2 kỳ vào tháng 2, 2009.

Ðây là bản dịch tài liệu mật của tòa Bạch Ốc đã được giải mật, một biên bản từng lời nói trong cuộc họp Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ.

Tài liệu được đóng dấu Tối Mật ("Top Secret"), đề ngày 28 tháng 4, 1974, và được bạch hóa vào tháng 2, 1995. Sau khi được bạch hóa, hồ sơ này lưu trữ tại Thư Viện Tổng Thống Gerald R. Ford tọa lạc tại Ann Arbor, Michigan, trong khuôn viên đại học University of Michigan.

Ðây là một hồ sơ quý giá phản ánh những quyết định của các nhân vật cao cấp nhất Hoa Kỳ: Tổng Thống Ford, Ngoại Trưởng Kissinger, Bộ Trưởng Quốc Phòng Schlesinger, Tổng Tham Mưu Trưởng Brown, v.v...

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là đây chỉ là một trong nhiều cuộc họp chung, họp riêng, điện đàm, v.v... của những nhân vật này liên quan tới sự kiện ngày 30 tháng 4. Một buổi họp cần được hiểu trong bối cảnh lịch sử của nó, trong đó phải kể tới những cuộc họp khác trước đó.

Riêng buổi họp được dịch ra ở đây diễn ra vào tối ngày 28 tháng 4 giờ Washington DC, tức sáng ngày 29 tháng 4 giờ Sài Gòn. Chủ đề chính và gần như duy nhất của buổi họp là làm sao hoàn tất công tác di tản người ra khỏi Việt Nam.

Trong bản dịch này, những lời trong dấu ngoặc vuông [...]là chú thích thêm của dịch giả.

Cũng nằm trong bài này là phụ lục nguyên văn bức điện do Ngoại Trưởng Kissinger gởi cho Ðại Sứ Graham Martin.

 

***

 

Biên bản buổi họp Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ tối 28 tháng 4, 1975

 

Hiện diện:

Tổng Thống Ford

Phó Tổng Thống Rockefeller

Ngoại Trưởng Kissinger

Bộ Trưởng Quốc Phòng Schlesinger

Tổng tham mưu trưởng, Tướng George S. Brown

Giám Ðốc Tình Báo Trung Ương William Colby

Thứ Trưởng Ngoại Giao Robert Ingersoll

Thứ Trưởng Quốc Phòng William Clements

Trung Tướng Brent Scowcroft, phó cố vấn An Ninh Quốc Gia

W. R. Smyser, nhân viên, Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia

 

TỔNG THỐNG: Hồi chiều Brent Scowcroft có báo cáo có hai quân nhân Thủy Quân Lục Chiến bị thiệt mạng, nên tôi cho rằng chúng ta cần triệu tập buổi họp Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia để bàn về tình hình tại Sài Gòn.

Buổi họp Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia ngày 28 tháng 4 trong phòng Roosevelt tòa Bạch Ốc. Từ trái, theo chiều kim đồng hồ, là: William Colby, giám đốc CIA; Robert S. Ingersoll, thứ trưởng Ngoại Giao; Henry Kissinger, ngoại trưởng; Tổng Thống Ford; James Schlesinger, bộ trưởng Quốc Phòng; William Clements, thứ trưởng Quốc Phòng; Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller; Ðại Tướng George S. Brown, tổng tham mưu trưởng; và phía góc dưới là Trung Tướng Brent Scowcroft, phó cố vấn An Ninh Quốc Gia. Hình được lưu trữ tại Thư Viện Tổng Thống Ford tại Ann Arbor, Michigan.

Ai có thể cập nhật tình hình được?

COLBY: Tôi xin phép cập nhật.

Mới đây nhất phía Việt Cộng bác bỏ đề nghị ngưng bắn của [Tổng Thống Dương Văn] Minh. Bây giờ họ đòi thêm một điều kiện thứ ba nữa, là phải giải tán quân lực miền Nam Việt Nam. Biên Hòa đang thất thủ. Việt Cộng đã cắt lối đi về đồng bằng sông Cửu Long và đang tiến về Vũng Tàu.

Tình hình rất nguy hiểm. Phía Bắc Việt đang mang pháo binh vào tầm bắn tới phi trường Tân Sơn Nhứt. Hồi 4 giờ sáng họ bắn một loạt hỏa tiễn vào Tân Sơn Nhứt. Ðó chính là cái giết hai người Thủy quân lục chiến. Sau loạt hỏa tiễn là tới trọng pháo 130mm. Một số pháo này rớt trúng phía Mỹ chứ không phải chỉ phía Việt Nam như đêm qua.

Có 3 chiếc máy bay bị bắn hạ. Ðều là của Việt Nam. Một chiếc C-119, một chiếc A-1, và một chiếc trực thăng A-37. Chiếc đó [A-37] bị hỏa tiễn SA-7 bắn. Sự hiện diện của hỏa tiễn này làm độ rủi ro tăng rất nhiều.

[SA-7 là tên do NATO đặt cho một loại hỏa tiễn phòng không của Liên Xô, bắn bằng súng vác vai. Liên Xô gọi hỏa tiễn này là Strela-2. Cộng sản Việt Nam gọi hỏa tiễn này là A-72.]

TỔNG THỐNG: Hỏa tiễn với hỏa lực kia ngưng chưa.

COLBY: Chưa. Vẫn còn tiếp diễn.

SCHLESINGER: Tin mới nhất là có trọng pháo bắn vào phi trường. Chúng tôi dự định đưa một loạt C-130 vào để bốc cơ quan DAO (Defense Attache Office - [Phòng Tùy Viên Quân Sự, là cơ quan thay thế MACV sau hiệp định Paris]). Họ hy vọng đáp xuống được, nhưng trạm không lưu tại chỗ nếu thấy không nên đáp thì có thể ngăn không cho. Bộ Binh Bắc Việt đang ở cách Tân Sơn Nhứt 1 km và vẫn đang tiến tới.

Trước buổi họp Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia ngày 28 tháng 4, Tổng Thống Ford họp riêng với Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller và Ngoại Trưởng Henry Kissinger trong phòng bầu dục để bàn về việc di tản người ra khỏi Sài Gòn. Hình được lưu trữ tại Thư Viện Tổng Thống Ford tại Ann Arbor, Michigan.

COLBY: Lực lượng này vào cỡ trung đội, khoảng một hay hai trung đội.

TỔNG THỐNG: Chúng ta không nên dựa quyết định của mình vào hai trung đội. Cỡ là bao nhiêu quân?

SCHLESINGER: Khoảng 100.

TỔNG THỐNG: Lần cuối cùng các ông được báo là đang có pháo kích là lúc nào?

SCHLESINGER: Mới khoảng 30 phút đây.

TỔNG THỐNG: Tình trạng phi đạo ra sao?

SCHLESINGER: Còn đáp được.

TỔNG THỐNG: Hiện giờ có máy bay C-130 nào đang trên mặt đất tại đó không?

SCHLESINGER: Chỉ có một chiếc thôi, mà bị trúng đạn rồi. Chúng tôi đang nạp vũ khí và bom vào máy bay ở Thái Lan. Máy bay của chúng ta đang bay và sẵn sàng để yểm trợ, nhưng hiện giờ thì đang ở ngoài khơi.

TỔNG THỐNG: Bom đó bom nào, có phải loại bom thông minh không? 

BROWN: Bom sắt bình thường. Những máy bay này không mang bom thông minh được trừ phi có lắp thêm thiết bị đặc biệt.

TỔNG THỐNG: Hiện có bao nhiêu người của DAO đang chờ ở phi trường?

SCHLESINGER: Khoảng 400, kể cả nhân viên hợp đồng.

TỔNG THỐNG: Nếu mấy chiếc C-130 có thể đáp được, nên cho chúng đáp xuống. Mình có bao nhiêu chiếc?

BROWN: Chúng tôi dự định bay 70 chuyến, với 35 máy bay mỗi chiếc bay hai chuyến.

TỔNG THỐNG: Ai sẽ quyết định có cho máy bay vào hay không?

BROWN: Người không lưu tại chỗ, ở Tân Sơn Nhứt.

TỔNG THỐNG: Nếu cuộc tấn công này tiếp diễn thì anh đó có cho máy bay vào không?

BROWN: Nếu là trọng pháo thì anh ta sẽ xua đi, còn nếu là hỏa tiễn thì anh ta sẽ cho vào.

Hôm qua anh ấy có nhận được tin tình báo rằng một đơn vị pháo binh dự định bắn vào hai mục tiêu. Bây giờ thì chúng đã bắn trúng hai mục tiêu đó rồi. Một bãi đậu máy bay và một sân vận động đang dùng để chuyển tiếp.

TỔNG THỐNG: Chuyển tiếp người Việt Nam?

BROWN: Vâng.

KISSINGER: Pháo đó là hỏa tiễn hay trọng pháo?

SCHLESINGER: Không biết chắc.

BROWN: Ðiều làm tôi lo lắng hơn cả trọng pháo và báo cáo cho biết có máy bay bị SA-7 bắn hạ. Trực thăng với máy bay không có cách nào phòng vệ chống SA-7 cả. Chỉ có một cách là đánh lạc hướng bằng cách thả mồi bẫy nhiệt, nhưng mà tôi không biết là máy bay chúng ta đang dùng có khả năng làm chuyện đó không. Tất nhiên, chúng tôi sẽ phải thực hiện nhiệm vụ, nhưng nếu độ rủi ro quá cao, chúng ta có thể sẽ phải ngưng cuộc bốc người.

TỔNG THỐNG: Rủi ro có cao quá hay không thì phải do người có mặt tại chỗ đánh giá. Tự chúng ta không đánh giá được. Vậy có nghĩa là chúng ta phải nhanh chóng bốc người của DAO ra cũng như của Ðại Sứ Quán. Ðó là một cách.

Nếu họ [máy bay C-130] đáp được, họ nên tiếp tục như trước. Nhưng nếu họ thấy quá nguy hiểm thì hai chiếc C-130 cuối cùng sẽ phải đưa DAO ra.

Tôi cho rằng chúng ta sẽ tiếp tục nếu nhân sự tại chỗ cho là điều kiện vẫn cho phép, nhưng nếu chỉ còn bay được 2 chuyến C-130 nữa thôi thì 2 chuyến này sẽ phải bốc người của DAO chứ không phải người Việt Nam.

KISSINGER: Tôi có nói chuyện với [Ðại sứ] Graham Martin rồi. Tôi thấy đằng nào thì DAO cũng phải bay ra. Tôi cũng nghĩ là Ðại Sứ Quán cần phải mỏng bớt đi. Nếu đến nước chúng ta phải oanh tạc hỗ trợ [cuộc di tản], chúng ta phải rút người Mỹ ra. Nếu không, sẽ quá nguy hiểm.

Bức điện do Ngoại Trưởng kiêm Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Kissinger gởi Ðại Sứ Graham Martin ra lệnh di tản.

SCHLESINGER: Hiện giờ chúng ta không có thẩm quyền oanh tạc hỗ trợ. Chúng ta chỉ có quyền bay trực thăng bốc người thôi.

TỔNG THỐNG: Nếu mình chờ cho đến lúc họ bắn rồi mới bắn trả thì thế nào cũng mất vài chiếc trực thăng vì đạn SA-7.

SCHLESINGER: Vũ khí đó khó chống lại lắm.

BROWN: Mình không làm gì được nó [hỏa tiễn SA-7] cả.

TỔNG THỐNG: Ta có thể có khu trục cơ bảo vệ trên không được không?

BROWN: Bất cứ lúc nào tổng thống muốn. Chúng tôi có sẵn cả máy bay tiếp nhiên liệu nữa.

TỔNG THỐNG: Mình cũng nên có máy bay bảo vệ trên không cho mấy chuyến C-130 chứ?

BROWN: Ðiều đó mình làm được, như Jim Schlesinger hồi nãy nói. Khu trục cơ và phi cơ tiếp nhiên liệu đều sẵn sàng rồi.

TỔNG THỐNG: Bao lâu nữa thì mình có thể đưa khu trục cơ vào được?

SCHLESINGER: Có hai vấn đề ở đây. Trước hết, nếu đến mức ta cần phải có khu trục cơ yểm trợ, thì mình đã phải rút hết ra rồi.

KISSINGER: Tôi cho là nếu họ thấy có khu trục cơ bảo vệ, sẽ có lợi cho chúng ta.

TỔNG THỐNG: Nếu ta có khu trục cơ bay bảo vệ nhưng không dùng [ý nói chỉ bay chứ không oanh tạc], họ vẫn sẽ có radar để thấy ta có mặt.

BROWN: Phía pháo binh không có [ý nói không có radar]. Các đơn vị bắn SA-7 cũng không.

Tôi cho rằng chúng ta không nên đưa khu trục cơ vào cho tới khi chúng ta sẵn sàng sử dụng chúng. Mức hiểm nguy tới mức là khu trục cơ chỉ nên dùng có mục tiêu, chứ không phải chỉ bay cho radar nhìn thấy.

SCHLESINGER: Cũng có thể họ chỉ mới bắn để cho mình đau thôi, mình đưa khu trục cơ vào coi chừng họ lại đánh mạnh hơn.

KISSINGER: Cũng có thể có ảnh hưởng ngược lại. Ngay cả nếu như các đơn vị tại chỗ không thấy máy bay của ta trên radar, bộ chỉ huy cao cấp ở Hà Nội thế nào cũng biết rất nhanh. Tôi không cho rằng họ sẽ tấn công mạnh hơn.

SCHLESINGER: Lệnh tấn công có thể đã có sẵn rồi.

BROWN: Tôi cho là đối phương đã quyết định đánh hết mức rồi. Hồi nãy có nhắc tới vài trung đội; phía sau còn nhiều nữa. Họ đến bằng cùng lối đi như hồi Tết [Mậu Thân]. Họ đang chuẩn bị một trận huyết chiến Tân Sơn Nhứt.

TỔNG THỐNG: Nếu chúng ta quyết định cho khu trục cơ bảo vệ, chúng ta sẽ phải di tản cả Sài Gòn chứ không chỉ có Tân Sơn Nhứt. Bao lâu nữa thì mình biết C-130 có đáp được không?

BROWN: Nội trong một giờ. Chúng tôi có đường dây trực tiếp đến Graham Martin.

KISSINGER: Tôi thấy chúng ta có ba điều cần quyết định:

- Trước hết, tiếp tục [di tản người] trong bao lâu, và C-130 có nên chỉ bốc người Mỹ hay bốc luôn cả người Việt. Dù gì đi nữa thì chắc chắn là hôm nay là ngày cuối cùng để dùng phi cơ. [Nguyên văn: "fixed wing" tức phi cơ có cánh bất động, để phân biệt với trực thăng.]

- Thứ nhì, tổng thống có muốn khu trục cơ bay bảo vệ trên bầu trời Tân Sơn Nhứt hay bất cứ chỗ nào khác chúng ta dùng để bốc người di tản.

- Thứ ba, có nên ra lệnh dùng hỏa lực yểm trợ không. Trong vấn đề này, tôi đồng ý với Jim [Schlesinger] là chỉ nên dùng khi di tản người Mỹ mà thôi.

Mối lo của tôi là chuyện cân bằng chuyện gây cho đối phương đánh hết mức khi họ chưa quyết định như vậy. Tôi cho rằng nếu họ thấy không quân Mỹ yểm trợ ảnh hưởng sẽ tốt.

SCHLESINGER: Tôi thấy chúng ta vẫn có thể vào cuộc với ít quân cụ hơn.

CLEMENTS: Nếu tổng thống quyết định ngày hôm nay là ngày cuối cùng để di tản người dân sự, chúng tôi có thể tiến hành theo hướng đó.

TỔNG THỐNG: Tôi cho là vậy. Hôm nay là ngày cuối cùng để di tản người Việt Nam.

KISSINGER: Vậy thì DAO cũng phải ra chung với họ.

BROWN: Trở lại chuyện đối phương có nhìn thấy không quân yểm trợ không: Chúng tôi đang bay phi cơ CAP của Hải Quân bên trên máy bay yểm trợ và Gayler [đô đốc, tư lệnh Thái Bình Dương] đã ra lệnh cho họ phá sóng radar của hỏa tiễn SA-2.

TỔNG THỐNG: Mình phá sóng SA-7 được không?

BROWN: No. Hỏa tiễn đó tầm nhiệt.

SCOWCROFT: Chúng tôi vừa nhận được báo cáo cho biết phi trường vẫn tiếp tục bị pháo. Hai trung đội Bắc Việt vẫn đứng tại nghĩa trang gần Tân Sơn Nhứt. Chiếc C-119 bị bắn là ở phía trên phi trường, chiếc kia bị bắn chỗ khác. Chúng tôi cũng được biết là C-130 vẫn đang trên đường đến nhưng không đáp xuống.

SCHLESINGER: Phía Bắc Việt có 4,000 đặc công ở Sài Gòn. Họ sẽ tấn công tòa đại sứ nếu phía chúng ta nổ súng.

KISSINGER: Tôi cho là, nếu ta mà bắn thì sẽ phải rút toàn bộ Ðại Sứ Quán đi. Chúng ta có thể nghĩ tới chuyện để lại một nhóm hạt nhân những người tình nguyện, nhưng tôi thì sẽ rút hết mọi người ra. Phía Bắc Việt có ý định hạ nhục chúng ta và nếu chúng ta để người lại thì không khôn chút nào.

TỔNG THỐNG: Tôi đồng ý. Mọi người sẽ phải đi cả.

Tới bây giờ chúng ta đã quyết định hai điều:

- Trước hết, hôm nay là ngày cuối cùng để di tản người Việt Nam.

- Thứ nhì, nếu chúng ta nổ súng, người của ta đều đi cả.

TỔNG THỐNG: Chúng ta đã sẵn sàng việc bốc người bằng trực thăng chưa?

BROWN: Rồi. Nếu Tổng thống hay Ðại Sứ Martin yêu cầu, chúng tôi có thể đưa trực thăng đến nội trong một giờ.

KISSINGER: Tôi tóm tắt lại lệnh của tổng thống là người Việt phải được đưa ra hôm nay, còn DAO và hầu hết Ðại Sứ Quán nên đi ra cùng với các chuyến phi cơ.

TỔNG THỐNG: Tôi muốn họ [DAO và Ðại Sứ Quán] nên được đưa ra dần từng đợt.

KISSINGER: Chúng ta nên để lại một nhóm nhỏ nhân viên ở Ðại Sứ Quán. Nếu cần tới hỏa lực yểm trợ, chúng ta sẽ tiến đến việc giải tán toàn bộ người Mỹ. Nếu chúng ta phải rút ra, ưu tiên sẽ là rút người Mỹ.

SCHLESINGER: Chúng ta nên rút người trong Ðại Sứ Quán ra hôm nay.

KISSINGER: Vâng. Chúng ta không nên để lộ ra chuyện hôm nay là ngày cuối cùng giải tán dân sự.

PHÓ TỔNG THỐNG: Báo chí biết vụ hai quân nhân Thủy Quân Lục Chiến bị chết chưa?

SCHLESINGER: Họ biết rồi. Chúng ta sẽ chờ xem bốn tư lệnh binh chủng [Bộ Binh, Hải Quân, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến] phản ứng ra sao.

BROWN: Ông bộ trưởng có nói là người Mỹ phải được ưu tiên nếu chúng ta ngưng cuộc bốc người, nhưng chúng ta không biết được điều này. Chúng ta đâu có thể biết trước được chuyến bay nào là chuyến cuối cùng.

SCHLESINGER: Chúng ta nên ngầm cho họ quyền ưu tiên.

TỔNG THỐNG: Chúng ta sẽ để cho Tướng Smith đưa dần dần người Mỹ vào cuộc di tản.

[Thiếu Tướng Homer D. Smith trong chức vụ tùy viên quân sự là chỉ huy trưởng cuối cùng quân đội Mỹ tại Việt Nam.]

KISSINGER: Nếu người Mỹ đi lên chuyến bay đầu tiên, tình hình sẽ không kiểm soát được. Chúng ta phải giãn người ra. Nhóm cần ở lại tới sau cùng là nhóm lo việc di tản người Việt Nam. Những người khác cần phải đi hết.

TỔNG THỐNG: Mình cần pha trộn vào từ từ. Chúng ta không muốn để quá nhiều người ở khúc cuối.

BROWN: Tôi không muốn thấy đám đông người Mỹ đứng ngẩn ngơ chờ chuyến bay cuối cùng.

SCHLESINGER: Henry à, có một vấn đề chúng ta cần tính tới. Khi tới cuối ngày và người ta biết là đã hết di tản, điều đó có gây hoảng loạn trong tòa Ðại Sứ không?

KISSINGER: Tôi cho là, với chính quyền mới lên nắm quyền, chúng ta cũng hết bổn phận.

Dù không có vụ pháo kích, chúng ta vẫn có thể sẽ phải thấy sự thay đổi của chính phủ Minh từ một chính phủ thân Mỹ qua trung lập rồi qua chống Mỹ. Ðiều này có thể xảy ra nội trong một tuần.

Ðể trả lời câu hỏi của anh, có thể có hoảng loạn. Cũng có thể khiến cho chính quyền quay sang chống lại chúng ta. Nhưng với 150 người thì tình hình kiểm soát được.

TỔNG THỐNG: Chúng [ý nói phi cơ] chỉ cách có 1 tiếng đồng hồ. Ngay là cuối ngày nếu tình hình trở nên xấu hơn, chúng ta vẫn còn đi kịp.

BROWN: Chúng ta chỉ cách có 25 phút, tính từ thuyền vào tòa đại sứ. Chúng tôi có thể đi ngay nếu có lệnh của tổng thống hoặc Graham Martin.

SCHLESINGER: Cũng có nguy cơ bị tấn công ban đêm.

KISSINGER: Tôi cho rằng tòa Ðại Sứ không có nguy cơ bị tấn công một cách có quy củ như bên DAO.

Tôi cho rằng nội trong ngày mai tổng thống sẽ phải quyết định có đưa toàn bộ Ðại Sứ Quán đi tối mai không. Ông sẽ giảm thiểu sự hoảng loạn nếu không đưa Ðại Sứ Quán vào Tân Sơn Nhứt. Vì vậy mình cần khuôn viên tòa Ðại Sứ làm nơi di tản.

Tôi cho rằng chúng ta nên đưa ai ra được hôm nay thì đưa ra, rồi sẽ quyết định về Ðại Sứ Quán ngày mai.

TỔNG THỐNG: Ngộ nhỡ C-130 không đáp được; nếu vậy chúng ta không đưa người ra bằng phi cơ được.

KISSINGER: Khi đó có thể quay sang giải pháp bốc người khẩn cấp ngay trong khuôn viên DAO và tòa đại sứ, và mình không có cách nào khác hơn là di tản toàn bộ. Rồi lúc đó cũng có thể sẽ phải ra lệnh cho hỏa lực yểm trợ.

SCHLESINGER: Tôi cho là chúng ta vẫn nên cố gắng đưa C-130 vào.

BROWN: Về mức sẵn sàng thì chúng tôi sẵn sàng đưa người ra phía Tân Sơn Nhứt hơn là ở tòa Ðại Sứ, vì ở chỗ đó chúng ta cần cho nổ phá cây và dẹp bãi đậu xe.

TỔNG THỐNG: Trước hết chúng ta cần xem chuyện gì xảy ra ở Tân Sơn Nhứt. Rồi sau đó sẽ phải bốc người ở DAO và tòa Ðại Sứ.

KISSNGER: Nếu đối phương tiếp tục tấn công, điều đó có nghĩa họ đang muốn bóp nghẹt chúng ta. Vậy chúng ta cần đưa hết mọi người ra.

TỔNG THỐNG: Ai sẽ là người thực hiện [mệnh lệnh hôm nay]?

KISSINGER: Tôi đề nghị chúng tôi thảo một bức điện, thông qua với Jim [Schlesinger] và George [Brown], rồi đưa tổng thống duyệt. Sau đó chúng tôi sẽ gởi cho Graham Martin. Jim có thể gởi cùng bức điện cho Gayler qua đường dây của ông.

Như vậy mọi người đều biết chúng ta cần làm gì.

CLEMENTS: Nếu chúng ta không đáp C-130 được, chúng ta sẽ cần ra quyết định quan trọng vào nửa đêm hoặc 1 giờ khuya.

TỔNG THỐNG: Quyết định đó sẽ là có nên rút hết không.

SCHLESINGER: Chúng ta có nên đánh giảm bớt trọng pháo trước không?

BROWN: Ðối với các chuyến trực thăng, tôi không quan tâm đến trọng pháo nếu chúng bắn vào phi trường. Nhưng nếu bắn vào DAO hay tòa Ðại Sứ thì chúng ta không vào được. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta hy vọng họ không di chuyển quá nhanh. Trong trường hợp thứ nhì, chúng ta có thể sẽ phải hủy diệt.

KISSINGER: Nhưng ông sẽ có phi cơ yểm trợ mà.

TỔNG THỐNG: Phi cơ yểm trợ bây giờ đang ở đâu.

BROWN: Tôi khuyên rằng phi cơ yểm trợ nên vào lúc chúng ta dùng trực thăng bốc người.

TỔNG THỐNG: Chúng ta có thể chờ xem C-130 có đáp được không. Nếu không, chúng ta sẽ phải chọn phương án 3 [bốc bằng trực thăng với hỏa lực và phi cơ yểm trợ]. Quyết định đó sẽ do việc C-130 có hay không vào được.

Ðồng ý không? (Mọi người gật đầu.)

***

 

Phụ Lục

Ngay sau buổi họp Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, Ngoại Trưởng Kissinger gởi bức điện sau đây (xem hình đính kèm) đến Ðại Sứ Graham Martin tại Sài Gòn.

 

Gởi từ: Tòa Bạch Ốc

Gởi đến: Ðại sứ quán Mỹ Sài Gòn

Người nhận: Ðại Sứ Graham Martin

Người gởi: Henry A. Kissinger

 

1. Tổng thống đã họp với Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia và đã quyết định như sau:

-Nếu hôm nay phi trường còn mở để đáp phi cơ có cánh cố định, ông sẽ tiếp tục di tản người Việt Nam bị nguy hiểm cao bằng phi cơ . Ông cũng phải di tản nội trong ngày hôm nay tất cả nhân viên Mỹ tại Tân Sơn Nhứt cũng như tất cả, trừ nhân sự tối thiểu, tại tòa Ðại Sứ.

-Dù điều này ông không nên nói ra, nhưng hôm nay sẽ là ngày cuối cùng nhắc lại cuối cùng di tản bằng phi cơ tại Tân Sơn Nhứt.

-Nếu phi trường không dùng được để đáp phi cơ, hoặc vì hỏa lực địch mà trở thành không sử dụng được, ông phải ngay lập tức chuyển sang dùng trực thăng giải tán tất cả nhắc lại tất cả người Mỹ, ở cả khuôn viên DAO lẫn tòa Ðại Sứ. Sẽ có khu trục cơ và hỏa lực yểm trợ nếu cần trong trường hợp di tản người bằng trực thăng.

2. Ðô Ðốc Gayler sẽ nhận được chỉ thị y hệt như này từ phía Quốc Phòng.

3. Thân ái.



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


VIỆT NAM - 60 NĂM XÂY DỰNG và HỦY DIỆT

VIỆT NAM - 60 NĂM XÂY DỰNG và HỦY DIỆT

Nguyễn Đại Việt

Thế hệ mới - thế hệ của tinh thần trách nhiệm.


Trong tương lai, nếu có bất kỳ biến động lớn nào xảy ra trên thế giới, nếu có một khuynh hướng thống trị mới nào xuất hiện trên địa cầu, thì các quốc gia nhược tiểu và các quốc gia có tinh thần dân tộc yếu kém như Việt Nam hiện nay sẽ có nguy cơ bị mất nước. Vì thế, người ta cần phải có một giải pháp ngay từ bây giờ, trước khi đất nước bị xô đẩy đi sâu vào băng hoại, khó phục hồi, và đó là dấu hiệu, là tấm bảng chỉ đường đi đến chỗ diệt vong.


Cách đây 36 năm, thế giới đã ngoảnh mặt đứng nhìn miền Nam Việt Nam bị bao vây, thản nhiên nhìn họ đơn độc chống trả lại sự tấn công toàn lực của hệ thống Cộng sản quốc tế. Sự thiếu thốn đạn dược của quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), sự chênh lệch về hoả lực của hai bên trong mấy năm sau cùng, khiến tiền đồn chống Cộng của khối tự do ở Đông Nam Á bị thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đồng minh của miền Nam lặng lẽ di tản trong tiếng reo mừng chiến thắng của người bộ đội Cộng sản Bắc Việt. Trong tiếng reo ấy, người ta cũng nghe những tiếng súng lục ngắn gọn, những tiếng nổ rải rác của lựu đạn, âm thanh của kinh ngạc và uất hận, thể hiện tinh thần tự do và trách nhiệm cao độ nhất của người lính VNCH, đồng thời những tiếng súng và tiếng lựu đạn ấy cũng báo hiệu sự kết thúc của nền tự do dân chủ ở phía nam con sông Bến Hải. Cũng từ ngày Sài Gòn bị đổi tên, người dân miền Nam phải ngày đêm đi xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội (CNXH) để bắt kịp miền Bắc, vốn đã bắt đầu từ những năm 1945.

"Giang sơn từ đây mở mặt, Xã tắc từ nay vững nền."

Quá trình xây dựng CNXH trong 60 năm của hai miền Nam Bắc đã tàn phá phần lớn tiềm lực và tiềm năng quốc gia. Tinh thần dân tộc được bồi đắp trong suốt mấy ngàn năm bị huỷ diệt và thay bằng tinh thần XHCN. Nền văn hoá lâu đời cũng bị phế bỏ và thay bằng nền văn hoá Cộng sản quốc tế. Đối với các thế hệ XHCN, lịch sử Việt Nam dường như chỉ mới bắt đầu cách đây 6 thập niên.

Sự huỷ diệt tinh thần dân tộc là điều căn bản để xây dựng chủ nghĩa Cộng sản. Nghĩa là phải xoá bỏ những gì đang hiện hữu, những gì dính líu đến quá khứ, kể cả tư duy của con người, kể cả lịch sử hàng ngàn năm của một quốc gia, kể cả phong tục tập quán và nền văn hoá lâu đời của dân tộc ấy. Xoá bỏ có nghĩa là huỷ diệt hoặc tàn sát. Cộng sản Khmer Đỏ chọn phương pháp tàn sát tập thể để xoá bỏ. Những cánh đồng tràn ngập xác người, nơi hàng vạn người Khmer bi tàn sát, được chọn làm nơi đặt nền tảng cho chủ nghĩa Cộng sản ở Kampuchia. Tuy không sử dụng phương thức tàn sát tập thể như Khmer Đỏ, người Cộng sản Việt Nam đã chọn những phương pháp không kém dã man và tàn bạo khác, những phương pháp thiếu tính nhân bản để huỷ diệt tinh thần dân tộc của quốc gia cuả chính mình.

Chủ trương huỷ diệt tinh thần dân tộc Việt Nam qua quá trình xây dựng CNXH được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất được thực hiện ở miền Bắc từ 1945 đến năm 1975. Giai đoạn thứ hai được tiến hành ở miền Nam từ 1975 đến 1985. Quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa trong hai thời kỳ này, không những đã tiêu diệt nền văn hoá và tinh thần dân tộc lâu đời, mà còn đào tạo hai thế hệ XHCN. Thế hệ thứ nhất gồm những người cuồng tín và giáo điều, chịu ảnh hưởng nặng nề tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm và tinh thần phi nhân bản. Thế hệ này hiện đang lãnh đạo đảng CSVN, điều khiển guồng máy quốc gia và chi phối mọi hoạt động trong xã hội. Trong khi đó, nhờ sự xụp đổ của Cộng sản quốc tế và chính sách đổi mới, nên thế hệ thứ hai, may mắn hơn, không bị ảnh hưởng nghiêm trọng giống như thế hệ đầu tiên. Dẫu vậy, trong 20 năm qua, từ năm 1986 đến năm 2005, xã hội Việt Nam bị biến dạng một cách đáng ngại so với thời kỳ bao cấp, bị xô đẩy đi sâu vào sự băng hoại và hỗn loạn. Trong đó, sức mạnh vật chất đang khống chế con người và giá trị đạo đức của xã hội này.

Người Cộng sản bắt đầu chính sách huỷ diệt tinh thần dân tộc qua cuộc cải cách điền địa, đi đôi với phong trào đấu tố được phát động trên toàn miền Bắc từ năm 1949. Người dân của mọi thành phần, từ nông dân đến địa chủ, từ công nhân đến trí thức, từ nghèo đến giầu, từ già đến trẻ, bất kể nam nữ, tất cả đã phải chịu đựng biết bao thống khổ, dày vò vì phong trào đấu tố. Người dân miền Bắc phải chịu tủi nhục, cắn răng, ngậm miệng, khi buộc phải vất bỏ tính người và khoác lên mình một sự tàn ác, một tinh thần phi nhân bản, để sống và đối xử với nhau.

Từ 1949 đến 1956, phong trào đấu tố đã khiến mọi người phải đấu tố lẫn nhau để giành quyền sống. Người làm công đấu tố chủ của mình, con cái đấu tố cha mẹ, vợ đấu tố chồng, em đấu tố anh, bạn bè người thân đấu tố lẫn nhau. Suốt 8 năm đấu tố liên tục, người Cộng sản đã khuất phục được mọi tầng lớp trong xã hôi. Đấu tố là hình thức khủng bố thể xác và tinh thần một cách phi nhân bản, là phương pháp rất hữu hiệu trong việc đánh quỵ mọi tư tưởng phản kháng và chống đối tự nhiên của con người. Kết quả là con người sẽ dễ dàng bị uốn nắn và dễ dạy bảo hơn. Để hoàn thành việc xoá bỏ nền văn hoá, phong tục tập quán, và tính nhân bản của người dân miền Bắc, song song với phong trào đấu tố, người Cộng sản đã bao vây, cô lập, và huỷ diệt tinh thần của họ tân gốc rễ qua chính sách bần cùng hoá nhân dân. Bị cô lập nghĩa là không có cơ hội so sánh và cầu cứu, làm giảm sự bất mãn và phản kháng, tạo thêm sự dễ dàng và thuận lợi cho chính sách bần cùng hoá của người Cộng sản.

Các kế sách của chủ trương bần cùng hoá nhân dân là chính sách bao cấp và chế độ hộ khẩu. Trong đó, mọi sinh hoạt hàng ngày của người dân đều được chỉ đạo và kiểm soát bằng khủng bố và bạo lực. Từ việc đi đứng đến cách ăn uống, nhất cử nhất động đều do đảng Cộng sản kiểm soát và ban phát. Dưới chính sách bao cấp, nhân phẩm của người dân miền Bắc bị chà đạp đến tân cùng. Họ phải tố cáo nhau để được hưởng ân huệ của đảng, phải giành giật nhau từ những cái tầm thường và nhỏ nhặt nhất để bù đắp vào sự suy nhược tinh thần lẫn vật chất trong quá trình xây dựng CNXH. Cái cảnh mà người ta phải buôn trộm bán lén phân bắc, đủ diễn tả hết cái đói khổ cùng cực, cái thiếu thốn và sự bần cùng, mà người dân miền Bắc phải gánh chịu trong giai đoạn này. Hãy lưu ý rằng, sự thiếu thốn ấy là do chính sách bần cùng hoá người dân của chủ nghĩa Cộng sản, chứ không phải miền Bắc không có tiềm lực và khả năng về kinh tế.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngoài việc áp dụng chế độ bao cấp và chế độ hộ khẩu ở miền Nam, chính sách tiêu diệt văn hoá và huỷ diệt tinh thần dân tộc được tiếp tục với chính sách học tập cải tạo và chương trình kinh tế mới. Để tiến hành giai đoạn hai trong việc huỷ diệt tinh thần dân tộc của cả nước, nhà tù và trại cải tạo được xây dựng khắp nơi trên toàn quốc, nghĩa là nơi nào có con người thì nơi ấy có nhà tù hoặc trại cải tạo. Thật vậy, một mặt vì e rằng việc sử dụng chính sách diệt chủng và tàn sát tập thể có thể gây bất lợi cho đảng CSVN đối với quốc tế. Mặt khác, cũng vì e ngại rằng việc tàn sát tập thể có thể tạo nên một cuộc nổi dậy của người dân miền Nam vốn đã sống dưới chế dộ tự do dân chủ trong một thời gian khá lâu; nhà tù, trại cải tạo, vùng kinh tế mới, cộng thêm các nhãn hiệu "phản động" và "tư sản mại bản", tất cả những thứ ấy, được xem là phương pháp hữu hiệu, đã được dùng đầy đoạ thể xác và huỷ diệt tinh thần dân tộc của người dân miền Nam. 

Miền Bắc bất hạnh hơn miền Nam. Vừa thoát khỏi chế độ phong kiến và thực dân, chưa được hưởng một giây phút không khí tự do dân chủ nào, người dân miền Bắc bị buộc đi xây dựng CNXH. Do vậy, chủ nghĩa Cộng sản dễ dàng thâm nhập vào xã hội miền Bắc vì sự vắng bóng của một nền tảng dân chủ. Miền Nam, trái lại, may mắn hơn, có cơ hội sống và tiếp xúc với thế giới tự do, nên những nghịch lý của chủ nghĩa Cộng sản khó lòng được tuyên truyền và thâm nhập một cách nhanh chóng. Tuy vậy, sau 10 năm xây dựng CNXH và 20 năm "đổi mới", tinh thần dân tộc ở phía nam vĩ tuyến 17 đã lung lay.

Sự sụp đổ giây chuyền của chế độ Cộng sản ở các nước Đông Âu và Liên Bang Xô Viết khiến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của đảng Cộng sản Việt Nam bị khựng lai. Sự sụp đổ này giúp họ nhận ra những sai lầm nghiêm trọng trong chủ nghĩa Cộng sản, những sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, và những sai lầm trong chính sách cai trị đất nước của họ trong sáu thập niên qua.

Sau khi nhận ra những sai lầm này, người Cộng sản tiên đoán chế độ có nguy cơ sụp đổ nếu vẫn còn tiếp tục theo đuổi công cuộc xây dựng CNXH. Để xoay chuyển tình thế, bắt chước đảng Cộng sản Trung quốc, đảng Cộng sản Việt Nam cũng chuyển hoá hòng kéo dài chế độ và sự tồn tại của đảng. Sự chuyển hoá của đảng Cộng sản trong 20 năm qua đã giải toả phần nào gánh nặng xây dựng CNXH cho người dân, nhưng một lần nữa, đã làm biến dạng xã hội Việt Nam theo một chiều hướng phức tạp và hỗn loạn hơn. 

Ngoài việc nhắc lại cái hào quang của trận Điện Biên Phủ năm xưa, đảng Cộng sản làm ngơ không nhắc gì đến những sai lầm và tai hại nghiêm trọng do họ gây ra từ năm 1985 trở về trước. Người Cộng sản giờ này chỉ tuyên truyền và xưng tụng những kết qủa từ năm 1986 trở đi, những gặt hái trong 20 năm qua, được cho là tốt đẹp và thành công nhất, kể từ khi họ mang chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam. Những thu hoạch của người Cộng sản trong hai thập niên qua là được tiếp xúc với thế giới tự do, làm ăn với Tây phương, xây dựng một số cơ sở vật chất, làm sở hữu chủ cơ sở thương mại, đất đai, nhà lầu, xe hơi, xe gắn máy, không còn phải lo âu về nỗi đói mỗi ngày, không còn phải xếp hàng mỗi ngày để mua nhu yếu phẩm, không còn phải lo sợ, lén lút khi ăn một bữa ăn ngon, đặc biệt là không còn phải đấu tố lẫn nhau nữa.

Thế nhưng, khi xưng tụng và hãnh diện về những thành quả đó, có lẽ người Cộng sản đã vội quên rằng, những thứ ấy, người dân miền Nam đã từng có trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Dẫu nền kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây quả có phát triển hơn so với thời kỳ bao cấp, tuy nhiên, nếu nhìn kỹ lại những kết qủa mà người Cộng sản đang hãnh diện, người ta vẫn nhận thấy hình như các kết quả ấy không phải là do công lao của họ. Công lao của người Cộng sản, nếu có, chỉ là việc hé mở bức màn sắt đã nhốt và cô lập người dân với thế giới bên ngoài suốt bốn thập niên. Thật vậy, tất cả những xưng tụng đó, nghĩa là làm cho nền kinh tế quốc gia có vẻ khá lên trong 20 năm qua, chỉ do sức bật, do bản năng sinh tồn, do sức sống tự nhiên của người dân khi bức màn sắt được hé mở.

Thay vì ca tụng những thành quả vật chất trong 20 năm qua, người Cộng sản có thể hãnh diện về hành động đã trả một phần quyền tư hữu lại cho người dân mà họ đã tước đoạt trong suốt 40 năm. Quyền tư hữu đã chuyển hoá tinh thần thụ động và lệ thuộc của người dân, làm sống lại bản năng kinh tế tự nhiên đã bị kềm hãm, giam cầm suốt bốn thập niên. Với quyền tư hữu này, chính người dân, không phải những người Cộng sản, đã vực dậy nền kinh tế bao cấp thoi thóp ấy.

Tựu trung, những gì thu lượm được trong hai thập niên vừa qua là một phần dựa vào các nguồn tài chánh từ bên ngoài, và phần kia là nhờ vào sự kỳ diệu của quyền tư hữu. Thật thế, sự góp mặt của quyền tư hữu trong 20 năm qua khẳng định các quyền căn bản của con người có ảnh hưởng và liên hệ mật thiết đến sự phát triển nền kinh tế của một quốc gia. Do vậy, nếu người Cộng sản can đảm trả lại tất cả các quyền căn bản cho người dân, nền kinh tế Việt Nam ắt hẳn sẽ khả quan hơn, và người Cộng sản sẽ có cơ hội hãnh diện về những kết quả kinh tế thực sư trong tương lai, so với những gặt hái tạm bợ trong 20 năm qua. Trái lại, nếu tiếp tục phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chắc chắn họ sẽ mất cơ hội để xưng tụng vì nó hoàn toàn không một cơ sở lý luận kinh tế vững chắc nào cả.

Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN không thể tồn tại lâu dài vì lý thuyết kinh tế này chỉ là một lý thuyết góp nhặt, một sự kết hợp miễn cưỡng và không hợp lý giữa chủ nghĩa Cộng sản và lý thuyết kinh tế Tư bản. Một lý thuyết kinh tế không hề được giảng dạy ở bất kỳ đại học nào trên thế giới. Nơi duy nhất giảng dạy lý thuyết kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ấy chính là Bộ chính trị của đảng Cộng sản Trung quốc.

Sự phát triển không hợp lý của nền kinh tế Việt Nam đã tạo ra một khoảng cách đột ngột giữa mức độ giầu và nghèo trong xã hôi. Con số người giầu và người nghèo còn quá chênh lệch, lợi tức của đại đa số người dân vẫn còn thấp dưới mức trung bình. Do đó, chính sách đổi mới và những nhu cầu phát sinh sau này của thành phần giầu có và quyền lực, đã thúc đẩy xã hội vào một sự hỗn loạn về kinh tế và làm đảo ngược giá trị đạo đức. Trong sự hỗn loạn ấy, người ta đặt nặng giá trị của kinh tế và vật chất, xem nhẹ giá trị đạo đức con người. Thành quả của nền kinh tế trong 20 năm qua giá trị đạo đức đang bị hủy diệt, tinh thần dân tộc trở nên thụ động và bạc nhược.

Thật vậy, hầu như hàng ngày, qua báo chí trong nước, người ta đều thấy loan tin về giám đốc của công ty này bị truy tố, cán bộ của huyện kia bị cách chức. Điều đáng chú ý là đa số các vụ cách chức và truy tố đều liên quan đến tội tham ô và hối lộ. Hoặc nếu có dịp đi một vòng thăm viếng đất nước này, từ Nam ra Bắc, người ta cũng không khỏi ngạc nhiên khi thấy tầng lớp khả kính nhất của một quốc gia, thành phần giáo chức, cũng ra sức khai thác bóc lột người khác. Người khác, nghĩa là đối tượng của sự khai thác bóc lột, lại chính là học trò của thành phần khả kính kia.

Nguy hiểm hơn nữa, dường như mọi tầng lớp của thế hệ xã hội chủ nghĩa, từ cấp nhỏ đến cấp lớn, trong mọi lãnh vực, trong mọi công ty, trong mọi nghành nghề, ngày và đêm, đầu óc họ có lẽ luôn bận rộn, suy nghĩ, tìm tòi những phương thức nào đó để đục khoét xã hội một cách hiệu quả và nhanh chóng nhất. Nói tóm lại, những hiện tượng tiêu cực xảy ra trong xã hội Việt Nam có tính cách thường xuyên, hằng ngày, hằng giờ, và bất kỳ ở đâu, trong nhà, ngoài đường, trong trường học, bệnh viện, văn phòng làm việc, quán cà phê, quán nhậu, khách sạn, vũ trường, v.v..., khiến người ta có cái cảm giác các hiện tượng ấy là một trong những phong tục tập quán của nền văn hoá ở xứ sở này.

Một cách đáng chú ý là, nền văn hoá Cộng sản quốc tế và tinh thần Xã Hội Chủ Nghĩa có thể được quan sát và tìm hiểu qua thái độ, hành vi và phong thái làm việc của một số cán bộ cao cấp, cấp thứ trưởng hoặc tương đương, của chế độ Cộng sản, qua những sự kiện và các vụ án không thể ém nhẹm hoặc không còn cách để che dấu. Điển hình là từ thái độ hằn học, thiếu trách nhiệm và thiếu giáo dục của một cán bộ cao cấp ngành hàng không khi trả lời phỏng vấn của một phóng viên thuộc một cơ quan truyền thông hải ngoại trong năm 2005, đến việc một cán bộ cao cấp ngành thể dục thể thao cưỡng hiếp một bé gái cũng vào năm ấy, và mới đây, vụ cá độ lên đến hàng triệu đô la của một cán bộ cao cấp khác của ngành giao thông vận tải trong đầu năm 2006.

Hãy lưu ý rằng, các cán bộ cao cấp ấy là tiêu biểu của thành phần lãnh đạo, là đại diện của thế hệ XHCN. Dù cách chức, bỏ tù, hoặc thay thế họ bằng những người khác, người ta cũng sẽ không giải quyết được vấn nạn này, bởi lẽ, tất cả những con người ấy đều giống nhau, tất cả đều là sản phẩm khuôn mẫu của người Cộng sản, và đó là kết quả tất yếu của quá trình xây dựng CNXH.

Tinh thần XHCN thiếu tính nhân bản, nhưng dân tộc Việt Nam là một dân tộc của tinh thần nhân bản. Trong suốt mấy ngàn năm lich sử của dân tộc này, trong suốt một ngàn một trăm năm bị Tầu và Pháp đô hộ, trong bất kỳ triều đại hoặc chế độ nào, và trong những giai đoạn nguy kịch, khó khăn nhất của đất nước, chưa bao giờ người ta thấy người phụ nữ Việt Nam bị dân tộc họ đầy ải và gả bán cho ngoại quốc làm nô lệ cả. Thế nhưng, với nền văn minh nhân loại trong thế kỷ 21, người ta khó mà tưởng tượng, cũng như khó lòng mà giải thích được khi khám phá ra rằng, có những bé gái và những thiếu nữ, những bà mẹ Việt Nam tương lai, đang bị thế hệ XHCN này, những người cùng chủng tộc với các cô gái khốn khổ ấy, đang dồn họ vào đường cùng, xua đuổi, và gả bán họ để làm nô lệ, dưới mọi hình thức, ở một số quốc gia lân cận trong hai thập niên qua. 

Sự kiện này là một điều đáng buồn cho truyền thống và thân phận của người phụ nữ, là niềm tủi hổ cho tuổi trẻ, và là một sỉ nhục cho quốc gia. Việc xua đuổi và gả bán người con gái Việt Nam đi làm nô lệ ở xứ người, một lần nữa, khẳng định tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm, và đặc biệt là tinh thần phi nhân bản của thế hệ XHCN ấy. Hãy lưu ý rằng, tinh thần phi nhân bản đó không phải là bản chất của dân tộc này, mà nó chỉ là sản phẩm của chính sách tiêu diệt nền văn hoá và huỷ diệt tinh thần dân tộc của quốc gia đó, khởi đầu bằng cuộc cải cách điền địa và phong trào đấu tố, trong quá trình xây dựng CNXH của người Cộng sản Việt Nam.

Theo một nghiên cứu mới đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), ông IL Houng Lee, đại diện của tổ chức này ở Việt Nam, nhận định rằng, nền kinh tế của quốc gia ấy phải mất một thời gian dài mới mong bắt kịp được nền kinh tế của một số quốc gia khác trong vùng. Trong cuộc nghiên cứu, nền kinh tế của xứ sở này chỉ được so sánh với một số nước nhược tiểu, và cuộc nghiên cứu được dừng lại ở Singapore, một nước nhỏ, theo thể chế dân chủ, trong vùng Đông Nam Á.

Tuy Singapore chỉ là một nước nhỏ, nhưng theo ông IL Houng Lee, Việt Nam cũng phải cần đến 197 năm, nghĩa là cần đến 8 thế hệ, mới mong bắt kịp nền kinh tế của quốc gia này Sự nghiên cứu ấy được dừng lại ở Singapore, vì con số đó sẽ lớn hơn nhiều, nếu phải so sánh với Đài Loan, Nhật Bản, hoặc một số cường quốc tây phương. Những con số này không cần thiết cho cuộc nghiên cứu, cũng như không mấy hữu ích cho việc nghiên cứu sự phát triễn kinh tế Việt Nam. Thật vậy, 197 năm là một giới hạn, một tầm nhìn khá rộng rãi của một công trinh nghiên cứu phát triển kinh tế cho bất kỳ quốc gia nào. Nói một cách khác, ông IL Houng Lee ngụ ý rằng, Việt Nam khó lòng trở thành một cường quốc kinh tế. Tệ hơn nữa, quốc gia này còn phải tiếp tục đóng vai trò một nước nhược tiểu trong nhiều thập niên tới. Vì lẽ đó, một cách tế nhị, những nhà nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã tránh so sánh nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế của các quốc gia dân chủ tiến bộ khác trên thế giới.

Cuộc nghiên cứu của IL Houng Lee hàm ý rằng Việt Nam cần phải xây dựng một lớp người mới, phải thay đổi chế độ hiện tại bằng chế độ tự do và dân chủ.

Sự di hại của thế hệ XHCN không chỉ giới hạn trong lãnh vực kinh tế, mà còn ảnh hưởng đến nền an ninh và sự tồn vong của đất nước. Thật vậy, trong quá trình lịch sử nhân loại, các nước nhược tiểu hoặc các quốc gia có tinh thần dân tộc bạc nhược thường là mục tiêu chính của các thế lực mạnh hơn. Người ta không thể bảo đảm rằng loài người sẽ được sống mãi trong hoà bình. Cũng như người ta cần phải nhớ lại bài học diệt vong của vương quốc Chiêm Thành, bài học một ngàn năm làm nô lệ dưới chủ nghĩa đại Hán, bài học một trăm năm làm nô lệ dưới chế độ thuộc địa, bài học cải cách điền địa, bài học cải tạo tập trung, và mới đây là bài học bỏ nước ra đi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 của người dân miền Nam. Ngoài ra, người ta cũng nên noi gương sự vươn lên với những thành quả có tầm vóc quốc tế, đáng được ca tụng của dân tộc và giới lãnh đạo Nam Hàn trong 30 năm qua.

Trong tương lai, nếu có bất kỳ biến động lớn nào xảy ra trên thế giới, nếu có một khuynh hướng thống trị mới nào xuất hiện trên địa cầu thì các quốc gia nhược tiểu và các quốc gia có tinh thần dân tộc yếu kém như Việt Nam hiện nay sẽ có nguy cơ bị mất nước. Vì thế, người ta cần phải có một giải pháp ngay từ bây giờ, trước khi đất nước bị xô đẩy đi sâu vào băng hoại, khó phục hồi, và đó là dấu hiệu, là tấm bảng chỉ đường đi đến chỗ diệt vong.

Hai giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và miền Nam trong bốn thập niên, bắt đầu từ năm 1945, cộng thêm 20 năm đổi mới trong lúng túng, không những đã tiêu diệt nền văn hoá và huỷ diệt tinh thần dân tộc được bồi đắp suốt mấy ngàn năm, mà còn để lại một di hại và hiểm hoạ không nhỏ đối với việc phát triển một Việt Nam đang tụt hậu trong nhiều thập niên tới. Thế hệ XHCN chính là sư di hại và mối hiểm hoạ ấy. Họ là kết quả của 40 năm xây dựng CNXH và 20 năm chuyển hóa, là nguy cơ của quốc gia và xã hội, và đang là trở lực chính trong mọi nổ lực phát triển đất nước. 

Nguyên lý căn bản để phát triển một Việt Nam vững mạnh là phải xây dựng lại nền tảng quốc gia. Nền tảng quốc gia chính là những lớp người mới mang tinh thần trách nhiệm, vì ngoài họ sẽ không còn ai khác có khả năng vực dậy và xây dựng lại một đất nước đang bị hủy diệt về mọi phương diện sau 60 năm xây dựng CNXH.


Nguyễn Đại Việt
30 tháng 4 năm 2011
Nguyễn Thái Học Foundation




Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


2011/05/02

SỰ THẬT VỀ NGƯỜI VIỆT

SỰ  THẬT  VỀ  NGƯỜI  VIỆT
Psonkhanh

Chúng ta còn thua kém nhi
ều dân tộc khác trên thế giới

Khi nhìn ra thế giới, nói chung, chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới, thế nên, xin miễn được đề cao người mình, những cái hay cái tốt mà nhiều người đã nói tới, mà hãy cùng nhau nhìn thẳng vào khuyết điểm của mình, để may ra có sửa chữa, thăng tiến hơn không.

Thấy người mà nghĩ đến ta, tôi thấy chúng ta phải quan tâm nhiều hơn và đúng mức đối với vấn đề của dân tộc, vì rằng, nói chung dân tộc ta kém xa các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới. Còn lý do tại sao chúng ta kém, chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào sự thực. Đã có hằng trăm cuốn sách khenngợi người Việt rồi, nếu chúng ta tự mãn với những điều đó, liệu chúng ta khá lên không, hay từ bao trăm năm qua vẫn thế? Văn hóa Việt có những ưu khuyết điểm nào? Ai cũng biết một số ưu điểm, nhưng phải biết khai thác ưu điểm và quan trọng hơn là nhìn thẳng vào khuyết điểm lớn để sửa chữa ngay.

Ai chẳng tự ái, muốn bênh vực dân tộc mình, nhưng nhìn lại từ thời hữu sử tới nay đã hơn 4.000 năm qua, chúng ta chỉ có một số thời gian ngắn yên bình thịnh trị, còn hầu hết là chiến tranh, không nội chiến thì ngoại xâm. Nội chiến vì chúng ta chia rẽ, còn ngoại xâm vì chúng ta ở một vùng địa lý chính trị quan trọng mà lại không biết giữ. Tại sao dân tộc ta cứ mãi mãi lầm than, khốn khổ như vậy?

Học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược trang 6 đã viết:
 
"Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn có sự hòa bình, nhưng mà đã đitrận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật."

Học giả Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Đất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) trang 68, cũng nhận xét rằng:
"Người mình phần đông thường ranh vặt, qủy quyệt, bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng. Tâm địa nông nổi, khoác lác, hiếu danh…".

Đại văn hào Lỗ Tấn của Trung Quốc đã từng ví người Hoa như ba con vật:
"Tàn bạo như Sư tử, gian xảo như Hồ ly, nhút nhát như Thỏ đế."…Không vì những ý kiến thẳng thẳn đó mà dư luận người Hoa cho rằng ông bôi bác hay phản bội dân tộc.

Tuy mỗi người nhìn và đặt vấn đề một cách khác nhau, nhưng họ có chung niềm trăn trở và chúng tôi công nhận là họ đã can đảm nói lên những điều xấu của người mình, là một trong những điều tối kỵ, ít ai dám nói tới. Đôi khi chúng ta cần gạt bỏ tự ái để nhìn thẳng vào sự thật, cố gắng sửa chữađể tiến thân, cho mình cũng như cho dân tộc. Tôi thấy hơn bao giờ hết, đây là dịp người Việt thẳng thắn nhìn lại người mình, cởi mở và dọn mình để mang tâm thức lớn, cùng nhân loại bước vào thế kỷ 21. Nói vậy chứ cũng đã trễ lắm rồi, bây giờ mà sửa soạn thì may ra vài chục hay cả trăm năm sau mới bắt đầu có kết quả.

Người Việt có những tính tốt nào? Người Việt hiếu học ư, cũng hiếu học đấy, nhưng vẫn chỉ là một số nào đó, một số lớn vẫn ít học, cho là nghề dạy nghề, tức tùy tiện tới đâu hay tới đó. Mà đa số trong số hiếu học ấy vẫn mang nặng tinh thần từ chương, quan lại, trọng bằng cấp từ ngàn xưa. Họ học để tìm sự giàu có, phong lưu cho bản thân và gia đình hơn là giúp đời. Họ được gọi là trí thức,nhưng chỉ biết tri thức chuyên môn, hầu như họ sống cách biệt, không dính gì tới đại đa số đồng hương mà họ cho là thấp kém.

Kiến thức tổng quát của họ là một mớ hời hợt, thường có được là qua những buổi trà dư tửu hậu, chứ không qua sách vở nghiêm túc.

Nói chi tới dân thường, có nhiều người cả năm không mua một cuốn sách, một tờ báo. Họ chỉ thích nghe lóm và chỉ đọc sách báo khi có ai đó mua thì mượn đọc ké thôi. Người mình lại suy nghĩ thiếu khoa học nên dễ tin, đọc một bản tin trên báo hay nghe truyền miệng mà đã tin, nên dễ bị kẻ xấu lừa.

Cứ nói người dân mình thích đọc sách và ham học lắm, nhưng tôi có cảm tưởng không phải như thế. Thực ra, dân mình mê khoa bảng, kiếm chút bằng để kiếm ăn. Sách in ra đa số nhận rất ít phản ứng… Việc đọc sách chưa được xã hội hóa, hàng tháng không có thông tin về sách mới ra, không giới thiệu, không phản hồi, không thống kê, giới viết và đọc không hội họp….

Nhờ tới họ việc gì, luôn luôn họ giẫy nẩy lên trả lời là bận lắm, bận lắm; Biết họ bận gì không? Họ bận kiếm nhiều tiền để mua nhà, mua xe, chứng tỏ sự thành đạt của mình với chung quanh. Để tỏ ra là cha mẹ có trách nhiệm, họ luôn luôn bận lo cho tương lai học hành của con cái, thúc đẩy con học những ngành yên ấm mà kiếm được nhiều tiền chứ không tạo cho chúng tinh thần xã hội, góp phần xây dựng đất nước… Họ lúc nào cũng bận quây quần với vợ con, bận tụm đám bạn bè vui chơi!!! Người Việt luôn nặng tình cảm, đôi khi đến độ che mờ lý trí.

Chúng ta có được tinh thần gia đình thương yêu, đùm bọc khá cao, nhưng qua những cuộc đổi đời mới đây, một số gia đình cũng bắt đầu tan nát. Tinh thần hiếu khách, dù là nhà nghèo, nhưng hầu hết người Việt có gì cũng sẵn sàng đem ra cho khách dùng. Người Việt có những tính xấu gì? Có thể nói là thiếu ý chí, thiếu sáng tạo, thiếu tinh thần khoa học, thiếu nghiên cứu, thiếu mạo hiểm, thiếu tầm nhìn xa, nói dối quanh, ít nhận lỗi, thiếu trật tự, thiếu nguyên tắc, thiếu tôn trọng của công, ăn cắp vặt, tự cao, tự ty, ỷ lại, thù dai, nặng mê tín, mau chán, thiếu tinh thần dân chủ vì độc đoán ít dung hợp ý kiến người khác, lúc nào cũng có cả trăm lý do để trễ hoặc không giữ lời hứa, nặng tình cảm mà thiếu lý trí, tinh thần địa phương, tôn giáo…

Nhưng đáng kể là thói ích kỷ và nhất là đố kỵ làm trầm trọng thêm sự chia rẽ, đó là những cố tật lớn nhất đã làm cho người Việt không đoàn kết, hợp quần, tiến nhanh lên được. Xin hiểu cho là cà một dân tộc thì có người nay người kia, nên nói như thế không có nghĩa mọi người như vậy và một người đồng thời có tất cả những tính xấu ấy cùng lúc.

Tại sao trong khi hầu hết người Nhật và Hoa thường tìm đến cộng đồng của họ thì có một số khá nhiều người Việt tìm cách xa lánh nếu không muốn nói là sợ chính cộng đồng của mình (trừ khi gặp khó khăn cần giúp đỡ)?

Chúng ta không thể thay đổi truyền thuyết chia ly giữa Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, hẹn khi cần mới gọi nhau hợp sức. Tức là bình thường thì chia rẽ, chỉ khi không sống được mới đoàn kết, rồi lại chia rẽ. Nhưng chúng ta, bằng lòng thành và ý chí phải vượt qua "định mệnh" không hay này.

Về bản thân người Việt, thân hình nhỏ bé, tuổi thọ thấp, sức lực kém,không bền bỉ, mà làm việc lại hay qua loa, tắc trách, đại khái nếu không nói là cẩu thả, nên nói chung năng suất kém.Chúng ta thử nhìn xem, trong bất cứ một nhà ăn quốc tế như ở các trường Đại học có nhiều nhóm người thuộc nhiều nước thì nhóm nào nhỏ người nhất, lộn xộn và ồn ào nhất có nhiều phần chắc đó là nhóm người Việt. Nhóm này còn thêm cái tật hút thuốc, xả rác khá bừa bãi nữa.

Nay đã là đầu thế kỷ 21, thử nhìn việc lưu thông ở các thành phố lớn Việt Nam xem. Thật là loạn không đâu bằng. Người ngoại quốc nào đến Việt Nam cũng sợ khi phải hòa mình vào dòng xe cộ đó, và nhất là khi băng qua đường. Tỷ lệ tai nạn xẩy ra rất cao, ai cũng ta thán, thế mà bao năm qua vẫn mạnh ai nấy chạy, mạnh ai nấy đi. Những ngã năm, ngã bảy xe đông nghẹt mà hầu như không chia làn đường, nhiều nơi không có bệ tròn để đi vòng, không cảnh sát hướng dẫn lưu thông, Từmọi phía xe cứ đổ dồn thẳng vào rồi mạnh ai người nấy tìm đường tiến lên. Đã cấm đốt pháo được mà sao tệ nạn lưu thông đầy rẫy, mỗi một chuyện cỡi xe gắn máy phải đội nón an toàn đã bao năm qua vẫn chưa giải quyết được.

Sống trong xã hội mà dường như có rất đông người Việt hầu như không muốn bất cứ một luật lệ nhỏ nào ràng buộc mình. Cứ làm đại, làm càn rồi tới đâu hay tới đó!?

Tôi vẫn nghĩ, một dân tộc có văn hóa cao, thực sự hùng mạnh không thể nào nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chỉ biết xâu xé nhau.

Chính tính xấu chung của người Việt mới nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chia rẽ mà sinh ra chiến tranh, chiến tranh mới đào sâu thêm hố chia rẽ và làm lụn bại dân tộc. Thất phu hữu trách mà, vận nước hôm nay là trách nhiệm chung của mọi người, không chỉ có người lãnh đạo mà người dân cũng chung trách nhiệm.

Thử nhìn các lãnh vực văn, thơ, nhạc của chúng ta mà xem, đâu đâu cũng than mây khóc gió là chính. Đồng ý là có nhiều chuyện buồn nên sáng tác nội dung buồn, nhưng buồn mãi vậy ích lợi gì, sao không tìm cách giải quyết cái buồn. Có biết đâu những tư tưởng yếm thế đó càng làm cho tình hình xấu thêm. Nếu có tư tưởng nào tích cực thì muôn đời vẫn chỉ thuần là tư tưởng, vì chính tác giả của tư tưởng ấy chỉ viết hay nói ra cho sướng, nói ra để lấy tiếng với đời, chứ chính họ không có trách nhiệm thực thi.

Những gì cụ Phan Bội Châu báo động, kêu than trong cuốn "Tự Thán" đã gần một thế kỷ qua mà như đang xẩy ra quanh đây thôi.

Nếu chúng ta không có can đảm trị căn bệnh ngàn năm của mình thì dù có hết chiến tranh, dân Việt vẫn mãi mãi khó mà vươn lên được. Chí sĩ Phan Bội Châu đã hy sinh cả cuộc đời vì nước, vào sinh ra tử không tiếc thân, thế mà trong cuốn "Tự Phán", cụ đã thẳng thắn nhận đủ thứ lỗi về phần mình. Cụ hối hận nhất là không đủ tri thức về ngoại ngữ và tình hình thế giới. Nhưng trong đó, cụ cũng không quên nêu lên một số khuyết điểm chính của người mình thời đó. Như người lãnh đạo không lo cứu nước, dân không lo việc nước. Chỉ tranh thắng với nhau trên bàn cờ, hay cốc rượu, mà bỏ mặc vận nước cho ngoại xâm giày xéo… 

Ai cũng biết, Nhật Bản là một đảo quốc, đất hẹp, dân đông, nhưng người Nhật đã khéo léo thu thập tinh hoa thế giới để bồi đắp quê hương mình trở thành một cường quốc, đôi khi vượt qua cả những nước bậc thầy của họ trước đó. Thật là hiện tượng hiếm có, không mấy dân tộc nào làm được. Nhật Bản có thể ví như một nhà nghèo mà đông con, thế mà đã nuôi được cho tất cả các con ăn học thành tài. Nên đây thật là tấm gương lớn cho người Việt chúng ta học hỏi vậy.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại và hiện đại đã có những chọn lựa hướng đi khác nhau. Khi Pháp đòi Việt Nam mở cửa và đe dọa bằng cách bắn phá đồn Đà Nẵng năm 1856, Việt Nam đã chủ trương bế môn tỏa cảng. Thế nên năm 1858,Pháp đem 14 tàu chiến và 3.000 lính đến bắn tan đồn lũy Đà Nẵng. Phía Việt Nam chống cự đến cùng, để rồi bị thua và toàn quốc bị đô hộ 80 năm. Chúng ta có tính can trường và bất khuất, nhưng thiếu khôn ngoan về một tầm nhìn xa cho đất nước chăng? Đặc biệt Việt Nam hầu như chỉdựa vào một cường quốc, khi sợ nước nào thì chỉ dựa theo nước đó, thiếu tầm nhìn toàn diện.

Thật vậy, khi thấy Pháp mạnh thì bỏ Trung Hoa theo Pháp, rồi theo Nhật Bản, theo Hoa Kỳ hay Liên Xô. Theo đuổi chính sách như vậy, dễ bị một cường quốc lấn át và khi các cường quốc này yếu đi thì hoang mang, không biết trông vào đâu. Sau Thế chiến Thứ II, thế giới có phong trào giải thực, hàng chục quốc gia được độc lập một cách dễ dàng, riêng một số nhà lãnh đạo Việt Nam chọn con đường chiến tranh, hy sinh khoảng 4 triệu người và 30 năm chiến tranh. Điều này đã khiến quốc gia bị tụt hậu, trở thành chậm tiến và nhất là phân hóa, chưa biết bao giờ mới hàn gắn được.

Tại sao Việt Nam ở bao lơn Thái Bình Dương, vị trí địa lý chính trị cực kỳ quan trọng như vậy mà chỉ trở thành mục tiêu cho các đế quốc xâm lăng, còn không học hỏi để tự vươn lên được? Tại sao các đế quốc nhìn ra vị thế quan trọng của Việt Nam mà chính người Việt lại không nhìn ra và tự tạo cho mình một vị thế tương xứng như vậy? Tại sao người Việt đã đầu tư quá nhiều vào chiến tranh mà chúng ta vẫn thiếu hẳn một đường hướng xây dựng, phát triển quốc gia thích hợp? Với lối phát triển quốc gia trong nhiều thế kỷ qua, bao giờ Việt Nam mới theokịp các nước trung bình trên thế giới, tức ngang với tầm vóc đáng lẽ phải có về dân số và diện tích của Việt Nam?

Trong lúc đó, năm 1853, khi bị Hoa Kỳ uy hiếp, Nhật Bản cắn răng chịu nhục, quyết định bỏ chính sách bế môn tỏa cảng. Nhưng họ mở rộng ngoại giao, không chỉ với Hoa Kỳ mà với cả ngũ cường, thêm Anh, Pháp, Nga, Đức… mặt khác, họ cố gắng học hỏi ở các nước ấy, để 30, 40 năm sau vươn lên ngang hàng. Nhưng Nhật đã bắt chước các đế quốc, đi vào con đường chiến tranh sai lầm, góp phần gây nên Thế chiến Thứ II, hy sinh khoảng 3,1 triệu người và đất nước tan hoang. Sau Thế chiến Thứ II, Nhật Bản đứng trước một tương lai cực kỳ đen tối chưa từng có. Nhưng họ đã chọn con đường xây dựng quốc gia bằng hòa bình, cố gắng làm việc, chỉ 25 năm sau, Nhật Bản lại trở thành cường quốc.

Giờ đây, vận nước vẫn còn lênh đênh, mà người lãnh đạo lẫn người dân, nhiều người vẫn như xưa, chưa thức tỉnh. Đặc biệt, nay có cả mấy triệu người được ra nước ngoài, tri thức thăng tiến bội phần, nhưng chỉ có một phần nhỏ quan tâm tới cộng đồng và đất nước, còn phần lớn mạnh ai nấy lo làm giàu cá nhân…

Vài năm trước, tôi có được đọc trong một cuốn sách, đại ý thuật lại lời một người trí thức Nhật với một người Việt ở Việt Nam ngay sau khi Thế chiến Thứ II vừa chấm dứt năm 1945. Người Nhật ấy nói rằng, vì thua trận, từ nay đất nước Nhật Bản bước vào thời kỳ đen tối, còn Việt Nam sẽ thoát khỏi nạn thực dân, được độc lập và tương lai sáng lạn.

Nghĩ vậy, thế nhưng người Nhật đã cố gắng phục hưng đất nước một cách nhanh chóng. Trong khi đó, tình hình Việt Nam đã không diễn biến như hoàn cảnh thuận lợi cho phép. Tại sao có điều nghịch lý là sách giáo khoa Nhật Bản viết nước Nhật vốn "rất nghèo tài nguyên", mà nay người Nhật xây dựng thành "giàu có", còn sách giáo khoa Việt Nam có lúc viết nước Việt vốn "rừng vàng biển bạc" mà lại hóa ra "nghèo nàn"? Tại sao người Việt chỉ biết đem tài nguyên sẵn có và nông phẩm là thứ đơn giản và rẻ nhất đi bán? Dù ai cũng biết đây là thứ kinh tế mới chỉ ngang tầm thời Trung cổ.

Ngay nước gần chúng ta như Thái Lan cũng ở tình trạng tương tự, nhưng khéo ngoại giao hơn, không tốn xương máu mà vẫn giữ được hòa bình để phát triển. Do đó, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là không chỉ thu học kỹ thuật của người, mà cần để ý đến văn hóa, là mặt tinh hoa tạo nên tinh thần người Nhật hay người Đức. Có tinh thần mạnh thì như họ, dù thua Thế chiến Thứ II, cũng nhanh chóng vươn lên. Tinh thần yếu thì dù đất nước có giàu có cũng sẽ bị lụn bại đi như nhiều đế quốc trước đây trong lịch sử.

Vậy người Việt bị thua kém, tụt hậu vì những khâu nào? Tại sao đa số người Việt mua thực phẩm là món ăn vật chất hàng ngày, có thể mua nhạc hàng tháng để giải trí mà có khi cả năm mới mua một cuốn sách là món ăn tinh thần? Tại sao, năm 2007, người Việt dù có 3 triệu ở hải ngoại hay 85 triệu ở quốc nội, mỗi tựa sách (đầu sách) cũng chỉ in trung bình khoảng 1.000 cuốn? Như vậy người Việt có thực sự chăm tìm tòi, học hỏi không? Nếu bảo rằng sách đắt thì số người Việt tới thư viện sao cũng không cao.

Nói chung, không có dân tộc nào tiến mạnh mà sách vở lại nghèo nàn. Bởi chính sách vở là kho kiến thức, làm nền tảng để phát triển. Người Nhật tiến mạnh được là nhờ họ biết tích lũy kinh nghiệm. Người đi trước khi học hỏi, họ ghi chép rất cẩn thận, sau này nhiều người trong số đó viết sách để lại cho người đi sau và cứ thế. Có những người Việt giỏi, nhưng không chịu khó viết sách để lại, nếu người ấy mất đi thì bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy hàng mấy chục năm cũng mất theo luôn, thật là uổng phí. Hơn nữa, ai cũng rõ, nếu hiểu biết chỉ được thu thập thuần bằng kinh nghiệm chưa hẳn đã là chính xác và phổ quát, lúc viết sách, người viết sẽ phải tham khảo rất nhiều, khi đó, từ các suy nghĩ cho tới dữ kiện mới dần dần được hoàn chỉnh hơn.

Tại sao người Việt ở cả trong và ngoài nước được kể là học khá, nhất là về toán, mà không tìm ra một công thức hay có được một phát minh thực dụng đáng kể nào? Tại sao lúc nào cũng đầy người tụ ở quán cà phê và hiệu ăn mà không hề nghe có lấy được tên một nhà thám hiểm Việt Nam nào? Tại sao chúng ta thiếu hẳn óc tìm tòi, mạo hiểm, nhẫn nại và cố gắng?

Người ngoại quốc nào nghe người Việt nói cũng thấy lạ, thấy hay, vì líu lo như chim, âm thanh trầm bổng như có nhạc. Bởi tiếng Việt có khoảng 15.000 âm với 6 dấu thinh/giọng, lên xuống như "sắc, huyền", uốn éo như "hỏi, ngã", rung động như "r"… thế nhưng, đa số người Việt không biết gì về nhạc lý cả. Trong khi tiếng Nhật rất nghèo nàn về âm, chỉ có 120 âm, mà đa số người Nhật rất giỏinhạc, có nhiều nhạc trưởng hòa tấu hàng quốc tế, còn đi sửa các dàn organ cho cả Âu châu… Người Việt hầu hết chỉ biết mua nhạc cụ chơi, tới khi hỏng thì chịu, thấy tình trạng bết bát quá, chính người Nhật phải qua sửa giúp nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng Việt Nam khoảng đầu thập niên 90.

Trong tiến trình phát triển quốc gia, cụ thể là trên bình diện kinh tế, từ khâu đầu tư, tụ vốn, lập công ty, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu, nghiên cứu, sản xuất, cải tiến, quản lý phẩm chất, quản lý tài chính, quảng cáo, buôn bán, phân phối, bảo trì, tái biến chế, bảo vệ môi sinh… Tất nhiên làm ăn cá thể thì người Việt thường chỉ mạnh ở khâu buôn bán nhỏ hoặc kinh doanh hiệu ăn lấy công làm lời. Ngay khâu buôn bán, người bán thường chú trọng mua hàng ngoại hạng nhất về bán kiếm lời và người tiêu dùng cũng lo bỏ ra thật nhiều tiền tìm mua hàng ngoại hạng nhất để khoe mà nhiều khi không biết dùng hoặc không cần dùng tới! Tại sao lại chuộng "hàng ngoại" đến như vậy?

Hàng hóa ở Việt Nam ngày nay khá nhiều, nhưng người Việt không tự sản xuất lấy được khoảng 10% trong cấu thành sản phẩm đó. "Sản xuất" nếu có, "hàng nội" nếu có, thực ra chỉ là đốt giai đoạn, dùng máy ngoại quốc rồi nhập vật liệu và làm gia công. Sau này, khi máy hư hỏng thì lại mua máy mới, không dần dần tự chế máy thay thế như người Nhật hay người Hoa được. Cạnh tranh trong thương trường, người Việt thường tìm cách hạ nhau, coi thành công của người khác là thiệt hại của mình; như bày cua trong rọ, cứ kẹp nhau để rồi kết quả là không con nào ra khỏi rọ được.

Người Mỹ có châm ngôn làm ăn đại ý rằng:
- "Cạnh tranh là tự cải tiến sản phẩm của mình chứ không phải bỏ thuốc độc vào hàng của người khác". Người Nhật thì chủ trương:
- "Khách là nhất. Khách nuôi nhân viên chứ không phải chủ, phải làm sao cho vừa lòng khách".

Sự phồn vinh rất "giả tạo" hiện nay ở Việt Nam là do sự cởi mở về kinh tế, nhưng phần lớn là do tiền từ bên ngoài. Tới năm 2007, trong hơn 30 năm qua, Việt kiều gởi về khoảng 70 đến 80 tỷ Mỹ kim, cộng thêm một số tiền đầu tư trực tiếp và gián tiếp của ngoại quốc 100 tỷ Mỹ kim (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này) và viện trợ ODAkhoảng 20 tỷ. Với số tiền khổng lồ khoảng 200 tỷ đó chưa kể Tổng sản lượng quốc dân (GDP)khoảng 500 tỷ do người Việt làm ra trong thời gian này, nếu có chính sách giáo dục, kinh tế tốt hơn và nhất là không bị quốc nạn tham nhũng thì mức sống của người dân có lẽ đã gấp hai, gấp ba lần hiện nay, mức chênh lệch lợi tức giữa người thành thị và nông thôn sẽ không quá xa.

Ở hải ngoại cũng vậy, với nhà cửa rộng lớn, xe hơi sang trọng tất nhiên do nhiều nỗ lực cá nhân, nhưng yếu tố chính cũng là do may mắn từ môi trường thuận tiện sẵn có, như thể "đẻ bọc điều, chuột sa hũ gạo". Chứ xét về bản chất, không khác với người trong nước.

Phải chăng các điều trên chỉ là những câu hỏi luôn làm trăn trở, bứt rứt một số rất ít những người Việt có tâm huyết với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Phải chăng còn đại đa số thì không quan tâm và bằng lòng với công việc buôn bán nhỏ hay đi làm thuê hiện tại?

Vì kiếm thật nhiều tiền cho mình và gia đình là quá đủ và hết thì giờ để nghĩ và làm thêm bất cứ chuyện gì khác? Thử hỏi như vậy Việt Nam sẽ đi về đâu? Tất nhiên, đã là con người thì dân tộc nào cũng có đủ các tính tốt và xấu, nhưng người Việt dường như bị nhiễm nhiều tính xấu ở mức độ rất trầm trọng.
 

Psonkhanh, blog Tin L
ề Trái



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.